Kiều Tri Chi sống vào thời Võ Tắc Thiên, người Đồng châu (nay là Đại Lệ, tỉnh Thiểm Tây). Không rõ ngày sinh, chỉ biết mất vào năm 697. Làm quan tới chức Tả ty lang trung. Ông bị sát hại vì theo Võ Hậu.
Ông được người đời sau biết đến vì có tài làm thơ. Tác phẩm có Đường Kiều Tri Chi thi tập (唐喬知之詩集) do người đời sau sưu tập lại
妾 本 叢 台 右,
Thiếp bản Tùng Đài hữu.
君 在 雁 門 陲。
Quân tại Nhạn Môn thùy.
悠 悠 淇 水 曲,
Du du Kỳ thủy khúc,
彩 燕 入 桑 枝。
Thái yến nhập tang chi
不 因 媒 結 好,
Bất nhân môi kết hảo,
本 以 容 相 知。
Bản dĩ dung tương tri.
容 謝 君 應 去,
Dung tạ quân ưng khứ,
情 移 會 有 離。
Tình di hội hữu ly.
還 君 結 縷 帶,
Hoàn quân kết lũ đới,
歸 妾 織 成 詩。
Quy thiếp chức thành thi.
此 物 雖 輕 賤,
Thử vật tuy khinh tiện,
不 用 使 人 嗤。
Bất dụng sử nhân xuy.
Nhà thiếp ở phía tây Tùng Đài (1)
Còn chàng ở tại biên thùy Nhạn Môn (2)
Nước sông Kỳ dài mênh mang uốn khúc
Chim én bay lượn vào cành dâu tươi mơn mởn.
Bởi không có mai mối kết thành đẹp đôi.
Mà chỉ cùng quen biết mặt nhau.
Lần lữa dung nhan thiếp tàn tạ nên chàng bỏ đi.
Tình đổi thay gặp cùng ly biệt.
(Thiếp) trả lại chàng chiếc đai tơ.
Xin chàng trả lại thiếp bức gấm thơ mà thiếp đã dệt tặng.
Tuy vật này hèn mọn.
(Nhưng khi) không còn dùng (mà để lại) sẽ khiến người cười.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG tạm dịch
Bài thơ bỏ thiếp.
Tùng Đài, nhà thiếp phía tây.
Nhạn Môn chàng ở ngày ngày ải quan.
Sông Kỳ uốn khúc mênh mang.
Có bầy chim én lượn ngàn dâu xanh.
Bởi không mai mối kết thành.
Dẫu cùng quen biết cũng đành phận hoa.
Một thời xuân sắc trôi qua.
Tình xưa dời đổi chia xa hững hờ.
Trả lại chàng chiếc đai tơ.
Xin chàng trả thiếp gấm thơ dệt lời.
Dẫu rằng vật mọn chàng ơi,
Không ai màng tới sẽ cười kẻ trao!
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
Chú thích:
1. Tùng Đài hữu: Chữ “hữu” 右: ngoài nghĩa bên phải, giúp, bên trên . Hữu còn có nghĩa là phương tây, Ví dụ: Sơn hữu 山右 tức là Sơn tây. Giang hữu 江右 tức là Giang tây. Như vậy Tùng Đài hữu là Tùng Đài tây.
2. Nhạn môn: Nhạn Môn Quan, (雁門關) tên một trong những cửa ải của Vạn Lý Trường Thành nằm trong thung lũng thuộc huyện Đại, tỉnh Sơn Tây. Qua khỏi cửa ải này là lãnh thổ của rợ Khiết Đan ngày xưa. Cảnh quan nơi đây kỳ vĩ, hai bên núi đá dựng đứng cao chót vót. Khi mùa đông đến, để tránh cái lạnh ở miền bắc, chim nhạn di chuyển về phương nam, chúng không thể bay qua các dãy núi cao mà bay vào con đường giữa hai vách đá ngang qua ải này nên mới gọi là Nhạn Môn (Cửa Nhạn). Nhạn Môn Quan nổi tiếng qua điển tích Chiêu Quân Cống Hồ và tiểu thuyết kiếm hiệp “Thiên Long Bát Bộ” của Kim Dung.
Ải Nhạn Môn Quan được sửa chữa năm 2010
可 憐 濯 濯 春 楊 柳,
Khả liên trạc trạc xuân dương liễu,
攀 折 將 來 就 纖 手。
Phan chiết tương lai tựu tiêm thủ.
妾 容 與 此 同 盛 衰,
Thiếp dung dữ thử đồng thịnh suy,
何 必 君 恩 能 獨 久?
Hà tất quân ân năng độc cửu?
Đáng thương cho cành dương liễu vào xuân tươi sáng
Trong tương lai sắp có tay vin cành bẻ trụi.
Dung nhan thiếp cũng cùng thịnh suy như cành liễu này.
Vì lẽ gì chàng để ân tình luôn kéo dài trong lẻ loi chờ đợi ?
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG tạm dịch
Bẻ dương liễu
Đáng thương cành liễu xuân tươi sáng.
Sắp có người vin bẻ trụi cành.
Dung mạo thiếp như cành liễu ấy.
Sao chàng để thiếp đợi mong manh.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch