Liễu Vĩnh trước có tên là Tam Biến, tự Kỳ Khanh, người ở Sùng An, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại, học tập ở kinh thành Khai Phong, con đường cử nghiệp lận đận, mãi về già mới đỗ tiến sĩ.Ông từng làm các chức quan nhỏ như Triện quan, Diêm quan, Viên ngoại lang... nhưng lại là một trong những nhà làm từ lớn nhất thời Bắc Tống. Ông mất lúc mới 50 tuổi (đời Tống Nhân Tông). Tương truyền khi ông mất, các kỹ nữ phải quyên góp tiền bạc để lo bề tống táng. Về tác phẩm hiện còn lại “Nhạc chương tập” (Tập sách ghi các chương nhạc) gồm có 200 bài từ của ông sáng tác. Từ của ông có ảnh hưởng rất lớn ở thời đó và cho các thi nhân về sau.
寒蟬淒切,
Hàn thiền thê thiết,
對長亭晚,
Đối trường đình vãn,
驟雨初歇。
Sậu vũ sơ yết.
都門帳飲無緒。
Đô môn trướng ẩm vô tự.
留戀處、
Lưu luyến xứ,
蘭舟催發。
Lan chu thôi phát.
執手相看淚眼,
Chấp thủ tương khan lệ nhãn,
竟無語凝噎。
Cánh vô ngữ ngưng ế.
念去去。
Niệm khứ khứ.
千里煙波,
Thiên lý yên ba,
暮靄沉沉楚天闊。
Mộ ái trầm trầm Sở thiên khoát.
多情自古傷離別,
Đa tình tự cổ thương ly biệt,
更那堪、
Cánh na kham,
冷落清秋節!
Lãnh lạc thanh thu tiết!
今宵酒醒何處?
Kim tiêu tửu tỉnh hà xứ?
楊柳岸、
Dương liễu ngạn,
曉風殘月。
Hiểu phong tàn nguyệt.
此去經年,
Thử khứ kinh niên,
應是良辰。
Ưng thị lương thần.
好景虛設。
Hảo cảnh hư thiết.
便縱有千種風情,
Tiện túng hữu thiên chủng phong tình,
更與何人說?
Cánh dữ hà nhân thuyết?
Tiếng ve kêu lạnh lùng thảm thiết,
Đối mặt với trường đình (2) trong chiều,
Cơn mưa mau vừa dứt.
Ngoài cửa thành uống không còn rượu.
Lúc còn lưu luyến,
Thyền lan thúc giục ra đi.
Nắm tay cùng nhìn lệ nhỏ,
Phút cuối nghẹn ngào không thể nói.
Tưởng cuộc hành trinh.
Ngàn dặm mờ khói sóng,
Khói mây chiều âm u trên trời Sở xa xôi.
Người đa tình từ xưa đã có nỗi đau ly biệt,
Làm sao chiụ nổi.
Tiết thu lạnh lẽo quạnh hiu!
Đêm nay tỉnh rượu ở nơi nào?
Bờ dương liễu,
Trăng tàn, gió sớm.
Việc này trải bấy nhiêu năm,
Chuyển qua ngày mới trong lành.
Cảnh đẹp không còn thiết ngắm.
Dẫu cho có nghìn mối tơ tình,
Càng đâu biết có người nào để nói?
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG tạm dịch
(1) Vũ lâm linh: là tên một nhạc khúc, còn viết là 雨淋鈴, có nghĩa là “tiếng chuông ngân của mưa rừng”, điệu nhạc khúc này do người đầu tiên soạn ra là Trương Dã Hồ. Truyện kể trong loạn An Lộc Sơn, Đường Minh Hoàng chạy vào đất Thục phải để quân sĩ giết chết Dương Quí Phi. Lúc yên giặc, nhà vua trở về, trên đường đi nghe tiếng mưa trong rừng ngân thánh thót như tiếng chuông, nhà vua bồi hồi nhớ đến người đẹp, liền sai Trương Dã Hồ - một viên quan phụ trách âm nhạc, soạn ra hai khúc Vũ lâm linh (雨霖鈴) và Hoàn ai nhạc (還哀樂).Người đời sau áp dụng thể loại nhạc khúc này vào sáng tác mới của mình.
(2) Trường đình: Là nhà trạm, dịch trạm. Ngày xưa, ở Trung Hoa, theo dọc đường đi, cứ cách 10 dặm, người ta đặt 1 trạm để thông tin liên lạc.
* Dịch thơ :
Vũ lâm linh
Tiếng ve lạnh lùng thảm thiết,
Trước dịch trạm (1) chiều buông,
Mưa rào vừa dứt.
Ngoài cửa thành rượu tiễn cạn ly.
Đang còn lưu luyến,
Thuyền lan thúc giục ra đi.
Cầm tay, nhìn nhau lệ nhỏ,
Phút cuối nghẹn ngào không thể nói năng chi.
Tưởng cuộc hành trình.
Nghìn trùng khói sóng,
Trời Sở xa xôi, mây chiều u ám.
Khách đa tình tự cổ mang hận biệt ly,
Làm sao chịu nổi,
Giữa tiết thu lạnh lẽo đìu hiu!
Đêm nay tỉnh rượu nơi nào?
Bờ dương liễu.
Trăng tàn, gió sớm,
Trải bấy nhiêu năm,
Chuyển qua ngày mới trong lành.
Cảnh đẹp giờ chẳng thiết.
Dẫu cho có nghìn mối tơ tình,
Làm sao tỏ cùng ai biết?
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
(2) dịch trạm: Là nhà trạm, dịch trạm. Ngày xưa, ở Trung Hoa, theo dọc đường đi, cứ cách 10 dặm, người ta đặt 1 trạm để thông tin liên lạc.
對 蕭 蕭 暮 雨 灑 江 天,
Đối tiêu tiêu mộ vũ sái giang thiên,
一 番 洗 清 秋,
Nhất phiên tẩy thanh thu,
漸 霜 風 淒 緊,
Tiệm sương phong thê khẩn,
關 河 冷 落,
Quan hà lãnh lạc,
殘 照 當 樓。
Tàn chiếu đương lâu.
是 處 紅 衰 綠 減,
Thị xứ hồng suy lục giảm,
冉 冉 物 華 休。
Nhiễm nhiễm vật hoa hưu.
惟 有 長 江 水,
Duy hữu Trường Giang thuỷ,
無 語 東 流。
Vô ngữ đông lưu.
不 忍 登 高 臨 遠,
Bất nhẫn đăng cao lâm viễn,
望 故 鄉 渺 邈,
Vọng cố hương diểu mạc,
歸 思 難 收。
Quy tứ nan thu.
歎 年 來 蹤 跡,
Thán niên lai tung tích,
何 事 苦 淹 留?
Hà sự khổ yêm lưu?
想 佳 人 妝 樓 長 望,
Tưởng giai nhân, trang lâu trường vọng,
誤 幾 回 天 際 識 歸 舟。
Ngộ kỷ hồi, thiên tế thức quy chu.
爭 知 我 倚 欄 杆 處,
Tranh tri ngã, ỷ lan can xứ,
正 恁 凝 愁。
Chính nhẫm ngưng sầu.
Trước cơn mưa chiều sầm sập đổ trên sông,
Một lần rửa sạch làm bầu trời thu xanh trong,
Gió se sắt thổi giục màn sương dần dần tràn ngập,
Non sông quạnh quẽ đìu hiu,
Chiều tàn chiếu xuống lầu.
Đó là nơi hồng phai lục nhạt,
Mọi vật hao gầy không còn vẻ đẹp.
Duy chỉ có nước sông Trường Giang,
Lặng lẽ chảy về đông.
Không nỡ lên cao nhìn ra (vời vợi),
Trông về cố hương mờ mịt xa xôi,
Nỗi nhớ không ngăn.
Than thở cho phận mình năm tới,
Vì lẽ gì phải chịu khổ ở lại thêm một thời gian?
Tưởng người đẹp trang điểm lên lầu mãi ngóng trông,
Bao nhiêu lần nhầm lẫn nhận thấy con thuyền về ở phía chân trời.
Làm sao biết ta đang đứng tựa lan can,
Đang nghĩ tới nàng, đăm đăm sầu nhớ.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG tạm dịch
* Dịch thơ :
Bát thanh Cam Châu
Trước mưa chiều sầm sập đổ trên sông,
Gột rửa trời thu trong vắt,
Gió lê thê giục màn sương tràn ngập,
Nước non quạnh quẽ đìu hiu,
Chiều tàn chiếu xuống lầu.
Chốn chốn hồng phai lục nhạt,
Mọi vật gầy hao vẻ đẹp.
Duy chỉ có dòng nước Trường Giang,
Lặng lẽ chảy về đông.
Không nỡ lên cao nhìn khắp,
Ngóng về cố hương mờ mịt xa xôi,
Nỗi nhớ không nguôi.
Than thở phận mình năm tới,
Vì sao cam khổ ở lại thêm lâu?
Tưởng người đẹp trang điểm lên lầu, mãi còn trông ngóng,
Bao lần nhầm lẫn thấy thuyền về ở phía chân mây.
Làm sao biết ta đang đứng tựa lan can,
Suy nghĩ về nàng, đăm đăm sầu nhớ.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch