Tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyệnMiện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ, học rộng, thích uống rượu múa kiếm, ngao du sơn thủy, đặc biệt có tài làm thơ. Đời Đường Huyền Tông được mời làm Đại học sĩ, tước ngũ phẩm nhưng vì không được lòng Dương Quý Phi nên phải bỏ ra đi. Ông từng theo Lý Lân khởi binh nhưng bị thất bại nên đã bị tù và bị đi đày ở Quí Châu. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lô Sơn. Đến thời Đường Đại Tông có triệu làm Tả Thập Di nhưng ông đã chết (năm 61 tuổi). Tương truyền khi ông đi chơi thuyền trên sông Trường giang đến Thái Thạch thuộc tỉnh An Huy; lúc uống say, thấy trăng dưới đáy nước, ông nhảy xuống ôm trăng mà chết cho nên nay có Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ (An Huy) .
Ông là nhà thơ nổi tiếng hàng đầu ở thời Thịnh Đường Trung Quốc và cũng là ngôi sao sáng của Đường thi cho đến hiện nay. Ông được người đời tôn xưng nhiều danh hiệu như “ Thi tiên (Tiên thơ)”, “ Trích tiên (Tiên giáng trần)”, “Tửu trung tiên “Tiên rượu)”...
Về tác phẩm : Theo nhà sưu tầm Lý Đăng Dương thì thơ ông có khoảng 20.000 bài nhưng đến nay chỉ còn khoảng 1.800 bài.
Lý Bạch
其 一 ( kỳ 1)
雲 想 衣 裳 花 想 容,
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung,
春 風 拂 檻 露 華 濃。
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng
若 非 群 玉 山 頭 見,
Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến,
會 向 瑤 臺 月 下 逢。
Hội hướng Dao Đài nguyệt hạ phùng.
其 二 (kỳ 2)
一 枝 紅 艷 露 凝 香,
Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,
雲 雨 巫 山 枉 斷 腸。
Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường.
借 問 漢 宮 誰 得 似,
Tá vấn Hán cung thuỳ đắc tự,
可 憐 飛 燕 倚 新 粧。
Khả liên Phi Yến ỷ tân trang.
其 三 (Kỳ 3)
名 花 傾 國 兩 相 歡,
Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,
長 得 君 王 帶 笑 看。
Trường đắc quân vương đới tiếu khan.
解 釋 春 風 無 限 恨,
Giải thích xuân phong vô hạn hận,
沉 香 亭 北 倚 闌 幹。
Trầm Hương đình bắc ỷ lan can.
- Bài 1:
Mây tưởng là xiêm y, hoa tưởng là khuôn mặt
Gió xuân thổi qua hiên, mang hương tinh khiết của sương hoa.
Nếu như không gặp ở đầu non Quần Ngọc
Sẽ hẹn đến Dao Đài gặp dưới trăng.
- Bài 2:
Một cành hồng đẹp đọng sương thơm.
Giấc mộng ở Vu Sơn cũng gây tiếc đứt ruột
Thử hỏi khắp Hán cung ai sánh được.
Đáng thương cho Phi Yến phải dựa vào màu xuân trang điểm.
- Bài 3:
Danh hoa nghiêng nước cùng sánh đôi vui.
Luôn được quân vương nhìn ngắm tươi cười.
Gió xuân làm tiêu tan nỗi giận hờn vô kể
Khi cùng nhau ngồi tựa lan can nơi đình Trầm Hương phía bắc.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG tạm dịch
* Dịch thơ :
ĐIỆU HÁT THANH BÌNH (1)
- Bài 1:
Mây tưởng xiêm y, hoa tưởng mặt
Gió xuân lả lướt , hoa sương giăng
Đầu non Quần Ngọc dù không thấy
Hẹn gặp Dao Đài mộng dưới trăng (2)
- Bài 2:
Một cành hồng đẹp đọng hương sương
Tỉnh giấc Vu Sơn cũng đoạn trường (3)
Thử hỏi Hán cung ai sánh được
Đáng thương Phi Yến mượn màu xuân. (4)
- Bài 3:
Sắc nước nghiêng thành hoa sánh đôi (5)
Quân vương say đắm ngắm hoa cười
Gió xuân thổi hết bao hờn giận (6)
Đình Trầm phơi phới tựa hiên vui. (7)
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
Dương Quý Phi trong vai diễn thời nay
* Chú thích:
1) Thanh bình điệu: Điệu hát thanh bình. Vào dịp mùa xuân, trăm hoa đua nở, Đường Minh Hoàng tổ chức thưởng hoa cùng Dương Quý Phi, nhà vua cho mời Lý Bạch đến làm thơ còn Lý Quy Niên thì phổ nhạc để hát khúc ca này. Tương truyền Lý Bạch đã làm ba bài này trong lúc đang say rượu và khi làm xong nhà thơ vẫn còn say.(Theo Thái Chân ngoại truyện).
Bài thơ này sáng tác vào năm 743.
2) Dao Đài: Đài bằng ngọc, còn gọi là Luân Đài. Theo truyền thuyết, đây là nơi ở của Tây Vương Mẫu.
3) Vân vũ Vu Sơn: Mây mưa ở núi Vu. Vu Sơn tiếp liên với núi Vu Giáp. Dưới chân núi Vu Giáp có đền thờ thần nữ.Theo truyền thuyết: vua Sở Tương Vương đến chơi ban ngày ở Cao Đường, lúc ngủ nhà vua mộng thấy mình ân ái với một người đẹp. Vua hỏi thì nàng thưa: Thiếp là thần nữ ở núi Vu Sơn đến chơi ở Cao Đường. Thiếp có bổn phận buổi sớm làm mây và buổi chiều làm mưa ở chốn Dương Đài. Do tích ấy, các từ : mây mưa, Vu Sơn, Vu Giáp.. có nghĩa bóng là chỉ việc chăn gối, ân ái của trai gái.
Ngoài nghĩa điển tích trên chúng tôi nghĩ câu “Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường” (Chuyện mây mưa ở Vu Sơn làm uổng tiếc đến đứt ruột).Nhiều người đã hiểu nhiều cách khác nhau về “ uổng đoạn trường”nên đã dịch rất phóng tác. Riêng chúng tôi nghĩ “uổng tiếc đức ruột” này có nghĩa gần gống với câu thơ của cụ Nguyễn Du :“ Tiếc thay một đóa trà mi./ Con ong đã tỏ đường đi lối về.” mà thôi.
4) Phi Yến: tên đầy đủ làTriệu Phi Yến, là hoàng hậu của Hán Thành Đế. Có nhan sắc và tài ca núa hơn người từ thuở nhỏ. Nhân Hán Thành Đế vi hành, thấy hai chị em học múa ở nhà Dương A liền đem về cung làm Tiệp Dư. Vua hết sức thương yêu Phi Yến nên dần dà đã phế hoàng hậu cũ để Phi Yến thay vào ngôi vị này. Trong hơn 10 năm, Phi Yến đã ra sức mê hoặc vua. Vì quá ham mê tửu sắc, vua đã mang bạo bệnh chết sớm. Hán Ai Đế tôn Phi Yến làm Hoàng Thái Hậu. Đến đời Bình Đế, Phi Yến bị phế xuống làm thứ nhân và nàng đã tự sát.
5) Danh hoa khuynh quốc: Danh hoa làm nghiêng nước. Trong một bài thơ của Lý Diên Niên làm để ca tụng người đẹp phương Bắc, có câu: “Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc” (Nhìn qua khiến nghiêng thành của người, nhìn lại khiến nghiêng nước của người).Ý nói người rất đẹp, mỗi sóng mắt liếc của họ có thể làm cho nghiêng thành nghiêng nước. Ý này gần ngĩa tương đương với ý “Quốc sắc thiên hương” (Sắc nước hương trời).
6) Giải thích xuân phong vô hạn hận : Chúng tôi hiểu với nghĩa: Gió xuân làm tiêu tan nỗi giận hờn vô kể. Vì chữ hận đây có nghĩa là hờn giận chứ không hề có nghĩa là gió sầu hay người sầu gì cả. Vậy Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi có hờn giận nhau không? Căn cứ vào điển tích văn học để lại là có. Chuyện kể Dương Quí Phi lúc mới vào cung tính hay ghen, Đường Minh Hoàng tức giận đưa giam một nơi. Nhưng không lâu nhà vua nhớ quá sai Cao Lực Sĩ- một cận thần ra thăm. Dương Quý Phi cắt tóc gửi về dâng vua. Vua thấy tóc lại thương quá cho vời vào cung. Bỡi vậy trong bài thơ “Màu thời gian”, Đoàn Phú Tứ đã có hai câu thơ : “Tóc mây một món dao vàng./ Nghìn trùng e lệ phụng quân vương”...Lý Bạch là người cùng thời, biết rõ mối hờn giận này nên khéo đưa vào thơ một cách tinh tế.
Mặc dù hết sức khéo léo nhưng bài thơ tuyệt tác trên đây cũng là một bài đã gây đại họa cho Lý Bạch. Nguyên là có lần Lý Bạch say, vua Đường Minh Hoàng sai cao Lực Sĩ cởi giày cho ông. Cao Lực Sĩ tức giận về việc này nên rủ cả bọn dèm pha với Dương Quý Phi, cho rằng Lý Bạch dám cả gan ví nàng với Triệu Phi Yến, là có ý muốn nàng có tai tiếng và kết cục bi thảm như Phi Yến(xem chú thích Phi Yến) . Dương Quý Phi nghe lời bọn này nên đã tác động tới Đường Minh Hoàng, đuổi Lý Bạch ra khỏi triều không cho làm quan nữa.Đến đây con đường công danh của Lý Bạch hoàn toàn chấm dứt.
7) Đình Trần Hương: Ngôi đình làm bằng gỗ Trầm Hương, một loại gỗ quí có hương thơm, nằm ở cửa bắc hoàng thành, trước vườn hoa Ngự Uyển.
*Giới thiệu một số bản dịch khác:
1) Bản dịch của Ngô Tất Tố:
ĐIỆU HÁT THANH BÌNH
I
Thoáng bóng mây hoa ngỡ bóng hồng,
Gió xuân dìu dặt hạt sương trong.
Ví chăng non Ngọc không nhìn thấy,
Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông.
II
Hương đông móc đượm một cành hồng,
Vu Giáp mây mưa những cực lòng.
Ướm hỏi Hán cung ai mảng tượng?
Điểm tô, Phi Yến tốn bao công.
III
Sắc nươc, hương trời khéo sánh đôi,
Quân vương nhìn ngắm những tươi cười.
Sầu xuân man mác tan đầu gió,
Cửa bắc đình Trầm đứng lả lơi
2) Bản dịch của Trần Trọng San:
I
Mặt tưởng là hoa, áo ngỡ mây ;
Hiên sương phơ phất gió xuân bay.
Nếu không gặp gỡ trên Quần Ngọc,
Dưới nguyệt Dao đài sẽ gặp ai.
II
Một nhánh hồng tươi, móc đọng sương ;
Mây mưa Vu giúp uổng sầu thương.
Hỏi nơi cung Hán ai người giống ?
Phi Yến còn nhờ mới điểm trang.
III
Hoa trời, sắc nước thảy đều vui,
Luôn được vua trông với nụ cười.
Mối hận gió xuân bay thoảng hết ;
Bên đình, thơ thẩn tựa hiên chơi.
美 人 在 時 花 滿 堂,
Mỹ nhân tại thì hoa mãn đường,
美 人 去 後 餘 空 床。
Mỹ nhân khứ hậu dư không sàng
床 中 繡 被 卷 不 寢,
Sàng trung tú bị quyển bất tẩm
至 今 三 載 聞 餘 香。
Chí kim tam tải văn dư hương
香 亦 竟 不 滅,
Hương diệc cánh bất diệt,
人 亦 竟 不 來。
Nhân diệc cánh bất lai.
相 思 黃 葉 落,
Tương tư hoàng diệp lạc,
白 露 濕 青 苔。
Bạch lộ thấp thanh đài.
Lúc mỹ nhân còn ở đây hoa đầy nhà.
Sau khi mỹ nhân đi rồi giường bỏ không.
Trên giường chăn thêu xếp lại không còn người đắp.
Đến nay đã ba năm mà khi ngửi vẫn còn sực nức
mùi hương.
Hương không phai mất hết.
Người mãi không trở lại.
Mối tương tư để lá vàng rơi rụng
Sương trắng đẫm ướt rêu xanh.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG tạm dịch
* Dịch thơ :
GỬI PHƯƠNG XA
Mỹ nhân lúc ở hoa đầy khắp.
Nay đã đi rồi giường bỏ không
Chăn thêu xếp để không người đắp
Ba năm , hương cũ vẫn thơm nồng
Hương vẫn chờ ai mà phảng phất
Sao ai đi mãi chẳng về nhanh
Tương tư, sắc lá vàng rơi rụng
Sương trắng còn vương rêu ướt xanh.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
* Giới thiệu bản dịch của các tác giả khác:
1) Bản dịch của Nguyễn Bính
Em còn ở, đầy nhà hoa ngát
Em đi rồi, ngơ ngác giường xưa
Chăn khâu nếp nếp hững hờ
Ba năm hương mãi bây giờ còn bay
Thơm nào nghe quyện đâu đây
Người đi bữa đấy mai này còn sang
Nhớ nhau cho rụng lá vàng
Cho sương lạnh trắng mấy làn rêu xanh.
2) Các bản dịch của văn học nước ngoài;
The Fair Lady
When the fair lady was here,
I filled our house with flowers;
But she went away,
Leaving her empty couch behind !
There stands her couch, with the embroidered quilts
all folded.
Could I sleep any more ?
It is three years since then;
Her sweet perfume still lingers...
The perfume never dies out;
She never comes back again.
I think of her till the yellow leaves
All fall off from the trees,
And the white dew wets the green moss, twinkling
silently...
Translated by Sun Yu
Envoyé au loin
Quand la belle était là, la salle était en fleurs;
Puis la belle partit, son lit vide l'atteste;
Couverture roulée, interdite aux dormeurs;
Et trois ans à ce jour que son odeur y reste\.
L'odeur ainsi ne s'éteint toujours pas;
La femme ainsi n'est toujours pas rentrée\.
L'amour a mis les feuilles jaunes bas;
Au lichen vert va la blanche rosée.
Translated by P. Jacob
長 相 思,
Trường tương tư,
在 長 安。
Tại Trường An. (2)
絡 緯 秋 啼 金 井 闌,
Lạc vĩ thu đề kim tỉnh lan,
微 霜 淒 淒 簟 色 寒。
Vi sương thê thê điệm sắc hàn.
孤 燈 不 明 思 欲 絕,
Cô đăng bất minh tứ dục tuyệt,
卷 帷 望 月 空 長 嘆。
Quyển duy vọng nguyệt không trường thán.
美 人 如 花 隔 雲 端,
Mỹ nhân như hoa cách vân đoan,
上 有 青 冥 之 高 天,
Thượng hữu thanh minh chi cao thiên,
下 有 淥 水 之 波 瀾。
Hạ hữu lục thuỷ chi ba lan.
天 長 路 遠 魂 飛 苦,
Thiên trường địa viễn hồn phi khổ,
夢 魂 不 到 關 山 難 。
Mộng hồn bất đáo quan san nan.
長 相 思,
Trường tương tư,
摧 心 肝。
Tồi tâm can.
Nhớ nhau hoài,
Tại Trường An. (2)
Guồng tơ quay vọng ra tiếng thu bên lan can giếng vàng,
Sương nhẹ rơi lạnh lẽo trên sắc chiếu tre.
Ngọn đèn cô quạnh không đủ sáng, nỗi nhớ muốn làm đứt đường tơ,
Cuốn rèm, trông lên vầng trăng trên không gian buông tiếng than dài.
Người đẹp như hoa bị che khuất sau áng mây,
Bên trên có sắc đen u ám của trời cao,
Bên dưới có dòng nước xanh lục nổi sóng.
Trời dài đất rộng khiến tâm hồn khổ đau chất ngất,
Mộng hồn không đến được nơi quan san hiểm trở.
Nhớ nhau hoài,
Nát cả ruột gan.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
* Dịch thơ :
Nhớ nhau hoài - Bài 1
Nhớ nhau hoài,
Tại Trường An.
Tơ dệt tiếng thu bên giếng vàng,
Sương nhẹ lạnh rơi trên chiếu trúc.
Đèn mờ cô lẻ , sầu tơ đứt,
Cuốn rèm trông trăng chợt thở dài.
Người đẹp như hoa mây che khuất,
Trên cao chợt thoáng sắc âm u,
Dưới sâu sóng gợn dòng nước lục.
Đất rộng trời dài, đau chất ngất,
Mộng hồn không đến được quan san.
Nhớ nhau đằng đẵng, Lòng nát tan.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
Chú thích:
(1) Trường tương tư: Tên một khúc hát được soạn ra từ thời Lục triều ( 222 – 589).
(2)Trường An: Tên kinh đô đầu tiên có từ thời cổ đại Trung Quốc ở tinh Thiểm Tây , đã trải qua 10 triều đại, trong số đó nổi tiếng nhất là thời nhà Hán và nhà Đường.
Nhớ nhau hoài - Bài 1
Trường An thiếp mãi tương tư,
Guồng tơ vọng lại tiếng thu giếng vàng.
Sương buông lạnh lẽo chiếu đan,
Đèn mờ, nỗi nhớ để làn tơ rơi.
Cuốn rèm trông đến phương trời,
Thở dài nhìn ánh trăng soi mượt mà.
Mỹ nhân đẹp tựa như hoa,
Mây che khuất bóng nhạt nhòa khuôn trăng.
Trên không chợt thoáng tối tăm,
Dưới sâu nước lục gợn dòng sóng xao.
Hỏi cùng đất rộng trời cao,
Khổ đau chất ngất phương nào chinh lang.
Mộng hồn cách trở quan san,
Nhớ nhau đằng đẵng ruột gan rã rời.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
日 色 欲 盡 花 含 煙,
Nhật sắc dục tận hoa hàm yên,
月 明 如 素 愁 不 眠。
Nguyệt minh như tố sầu bất miên.
趙 瑟 初 停 鳳 凰 柱
Triệu sắt (1) sơ đình phụng hoàng trụ,(2) dịch
蜀 琴 欲 奏 鴛 鴦 絃。
Thục cầm(3) dục tấu uyên ương huyền. (4)
此 曲 有 意 無 人 傳,
Thử khúc hữu ý vô nhân truyền,
願 隨 春 風 寄 燕 然。
Nguyện tuỳ xuân phong ký Yên Nhiên. (5)
憶 君 迢 迢 隔 青 天,
Ức quân thiều thiều cách thanh thiên,
昔 時 橫 波 目,
Tích thì hoành ba mục,
今 作 流 淚 泉。
Kim tác lưu lệ tuyền.
不 信 妾 腸 斷,
Bất tín thiếp trường đoạn,
歸 來 看 取 明 鏡 前。
Qui lai khán thủ minh kính tiền.
+ Dịch nghĩa : Nhớ nhau hoài - Bài 2
Sắc mặt trời lặn tắt, hoa ngậm khói,
Trăng sáng như lụa, nỗi sầu thao thức miên man.
Cây đàn sắt nước Triệu vừa ngưng trục phượng hoàng,
Đàn cầm nước Thục lại muốn trổi dây uyên ương.
Khúc đàn này có tình ý mà không có người để truyền đạt lại,
Thiếp muốn gửi theo gió xuân đưa đến chốn Yên Nhiên. (1)
Nhớ chàng dằng dặc cách chốn trời xanh,
Ngày xưa sóng mắt đưa ngang,
Nay làm thành suối lệ tuôn chảy.
Nếu không tin thiếp đứt ruột,
Hãy về cùng ngắm trước tấm gương trong.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG
* Dịch thơ :
Nhớ nhau hoài - Bài 2
Trời ngả hoàng hôn, hoa ngậm khói,
Ánh trăng như lụa, sầu miên man.
Đàn Triệu (1) vừa ngưng trục phượng hoàng, (2)
Uyên ương (3) lại trổi dây đàn Thục. (4)
Khúc này tình ý không người truyền,
Muốn gửi gió xuân đến Yên Nhiên. (5)
Nhớ chàng dằng dặc phương trời thẳm,
Ngày xưa sóng mắt ngang tầm ngắm,
Nay thành suối lệ mạch sầu tuôn.
Nếu không tin thiếp đau đứt ruột,
Hãy về cùng ngắm trước đài gương.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
Nhớ nhau hoài - Bài 2
Hoàng hôn, hoa ngậm khói sương,
Ánh trăng như lụa để buồn miên man.
Sắt cầm ngưng phiếm phượng hoàng,
Tiếp dây đàn Thục trổi làn uyên ương.
Khúc này đầy ý vấn vương,
Mà không người để trao truyền tình quân.
Bồi hồi muốn mượn gió xuân,
Đến Yên Nhiên gửi nỗi lòng xa xôi.
Nhớ chàng dằng dặc không nguôi,
Trời xanh thăm thẳm chia đôi lỡ làng.
Ngày xưa sóng mắt trao ngang,
Nay thành suối lệ hàng hàng sầu tuôn.
Không tin thiếp khổ đoạn trường,
Hãy về ngắm trước đài gương soi cùng.
HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch.
(1) Triệu sắt: 趙 瑟 :Cây đàn sắt của nước Triệu (403 TCN–222 TCN) thời Chiến Quốc , gọi tắt là đàn Triệu. Theo sách Thế bản thì đàn này do Bào Hi làm ra đầu tiên có 50 dây. Về sau đàn đã được đã chế tác lại thành 25 dây.
(2) Trục phượng hoàng: Phượng hoàng trụ 鳳 凰 柱Trục được khắc hình chim phượng hoàng, (hay còn gọi là phụng hoàng). Đây là loài chim thuộc một trong bốn biểu tượng tứ linh (long, lân, qui, phụng) của Trung Quốc và một số nước khác. dịch.
Cách đây khoảng 2200 năm, vào thời nhà Hán, người ta đã sử dụng biểu tượng Phượng Hoàng cho ý nghĩa hạnh phúc, trang nhã, đức hạnh... Phượng là con chim trống và Hoàng là con chim mái quay mặt vào nhau thể hiện sự hòa hợp âm dương, sự quan hệ hạnh phúc giữa chồng và vợ.
(3)Thục cầm: 蜀琴 Đàn đất Thục, loại đàn có 7 dây. Theo sự tích thì Tư Mã Tương Như (179 tr.CN - 117 tr.CN)- người đất Thục ở thời Tây Hán đã chơi loại đàn này hay nổi tiếng.
(4) Uyên ương huyền: 鴛鴦絃 Dây Uyên Ương. Uyên là loài chim giống vịt trời, con trống được gọi là Uyên, chim mái được gọi là Ương. Loài chim này lúc nào cũng đi có đôi với nhau nên biểu hiện cho tình vợ chồng thắm thiết. Dây uyên ương ở đây được hiểu: dây trống (dây to) là uyên và dây mái (dây nhỏ) là ương, hình thể lớn nhỏ của dây còn mang biểu tượng âm dương theo dịch học và có liên quan đến ý nghĩa uyên ương đã nêu.
(5) Yên Nhiên: Tên một ngọn núi, còn gọi là Yên Chi Sơn. ở huyện Tuyên Hoá, thuộc Sát Cáp Nhĩ.Theo Hậu Hán thư thì núi này cách nơi quan ải đến ba nghìn dặm. 0 Comments (tham khảo theo các tư liệu của Bách khoa tri thức, Bách khoa toàn thư và một số sách khác)